Để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam đã và đang thực thi, cải cách những chính sách phát triển của mình để hòa hợp với cộng đồng quốc tế. Ngày Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng là ngày mở ra nhiều thách thức với một quốc gia còn nhiều hệ lụy của thời kỳ kinh tế cũ – thời kỳ bao cấp. Làm thế nào để hội nhập kinh tế thế giới, làm thế nào để bảo vệ nền sản xuất trong nước, phát triển kinh tế trước những thách thức và đòi hỏi đặt gia khi ra nhập đấu trường quốc tế

Đề tài: “Phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội”

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOANii
MỤC LỤCii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNGvii
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH NHTM 6
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm Ngân hàng thương mại 6
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại  trong nền kinh tế thị trường 9
1.2. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NHTM12
1.2.1. Phương pháp phân tích báo cáo tài chính12
CHƯƠNG 2  THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI NHTM AGRIBANK CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI21
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI.21
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển21
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban24
2.1.3. Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội28
2.2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI.31
2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng báo cáo tài chính.31
2.2.2. Phân tích tình hình tài chính năm 2014 thông qua các tỷ số tài chính.47
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA AGRIBANK CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI53
2.3.1. Mặt được53
2.3.2. Tồn tại, khó khăn54
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI57
3.1. MỤC TIÊU KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH NĂM 201557
3.1.1. Mục tiêu cơ bản57
3.1.2. Định hướng cơ bản của chi nhánh57
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH58
3.2.1. Nâng cao chất lượng huy động vốn.58
3.2.2. Nâng cao chất lượng tín dụng59
3.2.3. Phát triển dịch vụ60
3.2.4. Nâng cao các chỉ tiêu về khả năng sinh lời.61
3.2.5. Nâng cao hiệu quả kinh doanh, hệ số thu nợ.62
3.3. Kiến nghị65
3.3.1. Đối với Ngân hàng Nhà Nước.65
3.3.2. Đối với NHNo&PTNT Nam Hà Nội.66
KẾT LUẬN68

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AGRIBANKNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ATMMáy rút tiền tự động (Automatic Teller Machine)
BHXHBảo hiểm xã hội
CBTDCán bộ tín dụng
CKHCó kỳ hạn
CNVCông nhân viên
CPCổ phần
ĐVTĐơn vị tính
HDBTHội đồng bộ trưởng
HĐQTHội đồng quản trị
KKHKhông Kỳ hạn
NHNgân hàng
NHNNNgân hàng Nhà Nước
NHNoNgân hàng Nông nghiệp
NHNo&PTNTNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NHTMNgân hàng thương mại
NHTWNgân hàng Trung ương
ODAHỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistant)
PGDPhòng giao dịch
TCTDTổ chức tín dụng
TSCĐTài sản cố định
VNDViệt Nam đồng
WBNgân hàng thế giới (WorldBank)
WTOTổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
XLRRXử lý rủi ro
XNKXuất nhập khẩu

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHNN & PTNT Nam Hà Nội qua 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.2: Hoạt động cho vay của NHNN & PTNN Nam Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
Bảng 2.3: Hoạt động cho vay và thu nợ của NHNN & PTNN Nam Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
Bảng 2.4: Tình hình tài sản của NHNN & PTNN Nam Hà Nội qua 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn của NHNN & PTNN Nam Hà Nội qua 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.6: Tình hình thu nhập của NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.7: Tình hình chi phí của NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.8: Kết quả hoạt động của NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.9:Các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi của ngân hàng NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm từ 2012 – 2014
Bảng 2.10Các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh của ngân hàng NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm từ 2012 – 2014
Bảng 2.11Các chỉ tiêu về nợ của NHNN & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm 2012 – 2014
Bảng 2.12Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng NHNNo & PTNT Nam Hà Nội trong 3 năm từ 2012 – 2014

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1:Biểu đồ nguồn vốn huy động của NHNN & PTNT Nam Hà Nội qua 3 năm 2012-2014 (tỷ đồng)
Hình 2.2:Biểu đồ thu nhập của NHNN & PTNT Nam Hà Nội qua 3 năm 2012 – 2014
Hình 2.3:Biểu đồ chi phí của NHNN & PTNT Nam Hà Nội qua 3 năm 2012 – 2014
Hình 2.4:Biểu đồ kết quả kinh doanh của NHNN & PTNT Nam Hà Nội Qua 3 năm 2012-2014

LỜI NÓI ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong định hướng phát triển của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam đã và đang thực thi, cải cách những chính sách phát triển của mình để hòa hợp với cộng đồng quốc tế. Ngày Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng là ngày mở ra nhiều thách thức với một quốc gia còn nhiều hệ lụy của thời kỳ kinh tế cũ – thời kỳ bao cấp. Làm thế nào để hội nhập kinh tế thế giới, làm thế nào để bảo vệ nền sản xuất trong nước, phát triển kinh tế trước những thách thức và đòi hỏi đặt gia khi ra nhập đấu trường quốc tế? Đó chính là những mục tiêu cấp thiết cần nghiên cứu để đưa ra những chiến lược phát triển đúng đắn cho quốc gia. Tài chính là huyết mạch quốc gia, mọi hoạt động kinh tế đều liên quan đến tài chính. Trong nền kinh tế hiện đại, hệ thống ngân hàng đóng vai trò trọng yếu. Thông qua hệ thống Ngân hàng từ trung ương đến địa phương, nhà nước sử dụng các công cụ để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, nhằm ứng phó với các biến động trong nước và tác động quốc tế. Trong phạm vi hẹp, Ngân hàng là đầu mối hoạt động giữa các doanh nghiệp, giúp lưu chuyển tiền tệ, điều tiết vốn, cung ứng vốn, tạo tiền, tích trữ tư bản và các hoạt động liên quan đến tiền mặt của tất cả các tầng lớp dân cư. Hoạt động ngân hàng phát triển, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và gia tăng lợi ích cho các tầng lớp dân cư. Chính vì vậy, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng để phát triển hệ thống ngân hàng không chỉ là vấn đề quan trọng nhất đặt ra với mọi ngân hàng mà còn là vấn đề thiết yếu cho sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

Do đó đề tài: “Phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội” được chọn làm chủ đề nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn. Từ đó, đề tài đưa ra giải pháp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của chi nhánh, xem chi nhánh Agribank Nam Hà Nội như một điển hình nghiên cứu có thể ứng dụng cho các chi nhánh Ngân hàng thương mại khác.

  1. Mục tiêu nghiên cứu
  • Mục tiêu chung:

Phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội trong 3 năm gần đây và đề ra các phương pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong tương lai.

  • Mục tiêu cụ thể

Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội trong thời gian 2012-2014 để thấy được sự biến động của kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 3 năm vừa qua.

Phân tích hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm thấy được thực trạng huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng, tìm ra được những mặt mạnh và yếu của ngân hàng.

Qua việc phân tích hoạt động tài chính, từ đó đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả cũng như hạn chế rủi ro trong hoạt động  tài chính tại ngân hàng.

  1. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
  • Không gian:

Đề tài được nghiên cứu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội

  • Thời gian:

Đề tài được lấy số liệu khoảng thời gian từ 2012 – 2014.

  • Đối tượng nghiên cứu:

Tình hình tài chính tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội.

  1. Phương pháp nghiên cứu
  • Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp được thu thập từ phòng Kế toán – Tài chính của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh Nam Hà Nội.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh Nam Hà Nội qua 3 năm 2012, 2013, 2014.

Bảng cân đối kế toán của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh Nam Hà Nội qua 3 năm 2012, 2013, 2014.

Tình hình huy động vốn qua 3 năm 2012, 2013, 2014 của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh Nam Hà Nội.

Doanh số cho vay, thu nợ qua 3 năm 2012, 2013, 2014 của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh Nam Hà Nội .

  • Phương pháp phân tích
  • Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê những số liệu cần thiết để làm cơ sở cho việc phân tích.

  • Phương pháp so sánh bằng số liệu tuyệt đối

Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích của kỳ gốc

Trong đó:

y0: chỉ tiêu năm trước. y1: chỉ tiêu năm sau.

6y: là phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.

Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục.

  • Phương pháp so sánh bằng số tương đối

Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế.

Trong đó:

y0: chỉ tiêu năm trước. y1: chỉ tiêu năm sau.

6y: biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế.

Phương pháp dùng để làm rõ tình hình biến động của mức độ của các chỉ tiêu kinh tế trong thời gian nào đó. So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu. Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục.

  • Phương pháp phân tích tỷ trọng

Xem xét cơ cấu, tính tỷ trọng các khoản mục trong bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

  1. Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về ngân hàng thương mại và tình hình tài chính NHTM

Chương 2: Thực trạng tình hính tài chính tại NHTM Agribank chi nhánh Nam Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nâng cao tình hình tài chính tại NHTM Agribank chi nhánh Nam Hà Nội

Sau đây là nội dung của 3 chương.

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH NHTM

 

  • NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
  • Khái niệm, đặc điểm Ngân hàng thương mại

Trong nền KTTT, có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và phát triển ở nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động khác nhau, trong đó, NHTM cũng được coi là một doanh nghiệp. Khi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì các NHTM càng trở nên cần thiết và đóng vai trò là một định chế tài chính gắn liền với sự phát triển của nền KTTT và kinh tế hàng hóa. Vậy bản chất NHTM là gì?

Việc đưa ra một khái niệm chung và chuẩn xác về NHTM là rất khó vì: các nghiệp vụ ngân hàng thường đa dạng và phức tạp; mỗi vùng, mỗi nước lại có những khái niệm khác về NHTM; đứng trên những góc độ khác nhau (quản lý, nhà đầu tư, người vay vốn….) lại có những quan điểm khác nhau về NHTM.

Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”

Theo Luật các tổ chức tín dụng hiện hành của Việt Nam thì: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận

Trong Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của Chính phủ Việt Nam về tổ chức và hoạt động của NHTM thì khái niệm NHTM được đưa ra rõ hơn: “Các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng không được phép sử dụng thuật ngữ “ngân hàng” trong tên của tổ chức, trong các phần phụ thêm của tên, văn bản, thông báo hoặc quảng cáo của mình mà thuật ngữ đó có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về việc tổ chức của mình là một ngân hàng”

Tại Lào, theo Luật NHTM Lào ngày 26 tháng 12 năm 2006 thì: “Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Ngân hàng thương mại mà kinh doanh về ngân hàng chẳng hạn như huy động tiền gửi để cung cấp tín dụng, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán và đầu tư”

Các khái niệm trên cho thấy một số chức năng cơ bản mà các NHTM đảm nhận, có sự khác biệt tương đối với các chức năng của các trung gian tài chính khác và có thể khái quát như sau: NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

Ngân hàng thương mại là một loại doanh nghiệp đặc thù. Tính đặc thù của NHTM thể hiện ở chỗ, đối tượng tác nghiệp là tiền tệ. Như vậy, NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM là nhận tiền gửi của khách hàng (huy động vốn) với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ thanh toán (sử dụng vốn).

Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân dưới các hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá… và tiền vay của Ngân hàng nhà nước (NHNN), các tổ chức tín dụng khác.

Sử dụng vốn của một NHTM chủ yếu từ hoạt động tín dụng và đầu tư, tín dụng là quá trình NHTM cho các tổ chức và cá nhân vay vốn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị, đầu tư là quá trình các NHTM dùng vốn tự có và các quỹ của mình mua đi bán lại các giấy tờ có giá (tín phiếu, trái phiếu của Chính phủ, NHNN), chứng khoán hoặc góp vốn liên doanh liên kết, mua cổ phần.

Hàng hóa sử dụng trong kinh doanh của NHTM là tiền tệ, thực hiện các chức năng: Trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và cung ứng dịch vụ cho khách hàng.

* Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM

Hoạt động kinh doanh của NHTM là một hoạt động đặc thù trong một lĩnh vực mà nó có liên quan tới mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Các đặc điểm chung của NHTM như sau:

Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm hai hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng). Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng.

Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thỏa mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh,…) thì mới được phép hoạt động trên thị trường. Do hoạt động ngân hàng liên quan chặt chẽ với các lĩnh vực hoạt động khác của nền kinh tế – xã hội nên đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ.

Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.

  • Vai trò của ngân hàng thương mại  trong nền kinh tế thị trường

NHTM không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế là nhận tiền gửi và cho vay, mà là phải thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội. Các NHTM  trong nền KTTT có những vai trò cơ bản sau: Vai trò trung gian; vai trò thanh toán; vai trò người bảo lãnh; vai trò đại lý; vai trò thực hiện chính sách tiền tệ.

Ngày nay, khi nền KTTT đang phát triển mạnh mẽ, quan hệ đa sở hữu ngày càng trở nên phổ biến thì sở hữu nhà nước đối với các NHTM đang giảm xuống rõ rệt, nhất là trong vòng 10 năm trở lại đây. Chính vì thế, tại các nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước trong các NHTM rất nhỏ, chỉ khoảng dưới 10% tổng số tài sản ngân hàng. Nguyên nhân là trong những năm qua Chính phủ các nước đã tích cực chuyển đổi hình thức sở hữu, từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác. Ngược lại, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế quá độ sang KTTT, tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các NHTM vẫn cao, như tại Ấn Độ là 80% tổng giá trị tài sản ngân hàng, tại Nga là 68% tổng giá trị tài sản ngân hàng, tại Ai Cập là 67% tổng giá trị tài sản ngân hàng…

Tuy số lượng các NHTM trên thế giới đã giảm đi đáng kể nhưng suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, lịch sử đã chứng minh NHTM đã và vẫn giữ vai trò chủ đạo, thực sự quan trọng đối với nền kinh tế. Ngoài những vai trò của một NHTM thông thường thì NHTM thể hiện vai trò đặc biệt, riêng có, ưu việt hơn các NHTM thuộc các thành phần kinh tế khác, thể hiện ở một số nội dung sau:

Một là, NHTM cung ứng một lượng vốn đầu tư lớn cho nền kinh tế để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước. Do có quy mô hoạt động lớn cả về huy động vốn và cho vay vốn, NHTM có khả năng đáp ứng đủ một lượng vốn đầu tư lớn và dài hạn cho các dự án trọng điểm của các doanh nghiệp và Chính phủ, góp phần đảm bảo chiến lược phát triển lâu dài cho toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, sự tài trợ của NHTM vào các dự án này sẽ đẩy mạnh hơn được tốc độ thực hiện, tiết kiệm được chi phí về vốn và thời gian đầu tư so với sự tài trợ của các thành phần kinh tế khác.

Hai là, NHTM cung ứng vốn đầu tư cho các dự án thuộc các vùng, lĩnh vực nhiều rủi ro, ít lợi nhuận nhưng lại có lợi về lâu dài cho tăng trưởng ổn định, phát triển đồng đều nền kinh tế mà các NHTM thuộc các thành phần kinh tế khác không đủ sức hoặc không muốn tài trợ.

Chính sách phát triển kinh tế của đất nước là phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành sản xuất. Tuy nhiên giữa các vùng, ngành luôn có sự khác biệt nhất định. Ở một số vùng, ngành có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn và ít rủi ro sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Ngược lại, một số vùng, ngành khác có mức thu lợi nhuận thấp và rủi ro cao lại không thu hút được vốn đầu tư. Chính sự khác biệt này có nguy cơ làm mất cân đối nền kinh tế, mất cân đối giữa các vùng, ngành và không đạt được mục tiêu phát triển của Chính phủ. Để khắc phục tình trạng này, dưới sự điều tiết của Chính phủ, NHTM được xem là nguồn cung ứng vốn quan trọng cho những dự án thực hiện đầu tư vào những vùng, ngành không đem lại lợi nhuận cao và nhiều rủi ro. Nhờ có lượng vốn đầu tư từ NHTM, các vùng, ngành này sẽ có điều kiện phát triển, thu hẹp khoảng cách với các vùng, ngành khác, từ đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và đồng đều.

Ba là, NHTM góp phần thực hiện các chương trình, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Chính phủ, đảm bảo tài chính tài trợ cho những khu vực không có hoặc có lợi nhuận thấp nhưng có phúc lợi xã hội cao.

Ngoài các chương trình phát triển kinh tế, Chính phủ còn phải thực hiện nhiều chương trình, chính sách phát triển khác về con người, xã hội. Vì vậy, NHTM còn đóng góp quan trọng trong việc chuyển tải vốn nhằm thực hiện các chương trình, chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước như: khắc phục thiên tai, lũ lụt, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm ở đô thị…

Bốn là, NHTM tạo môi trường quan trọng để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương. Để thực thi chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở… Các NHTM là chủ thể chịu tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời NHTM đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.

  • PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NHTM
  • Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
  • Khái niệm

Phân tích tài chính trong hoạt động của NHTM là dùng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM trong một kỳ kinh doanh nhất định mà thông thường là một năm. Qua đó có thể các nguyên nhân dẫn đến hoạt động có hiệu quả hay không có hiệu quả của NHTM, nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện các hoạt động của NHTM và để nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM.

Phân tích tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ cho công tác quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính nhu đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn…

  • Vai trò của việc phân tích tài chính.

Phân tích tài chính là công cụ để đánh giá hoạt động của ngân hàng. Qua phân tích tài chính chúng ta cũng có thể thấy được chiến lược đề ra có phù hợp hay không để từ đó có thể điều chỉnh kịp thời.

Phân tích tài chính là công cụ để ngân hàng đánh giá lại chiến lược kinh doanh của mình và đề ra chiến lược mới.

Phân tích tài chính là công cụ để xác định mặt mạnh và mặt yếu của ngân hàng. Thông qua phân tích này giúp cho ngân hàng có thể đánh giá được khả năng quản trị của ngân hàng, trình độ chuyên môn của cán bộ, cơ sở vật chất, công nghệ và thiết bị hoạt động của ngân hàng có thích hợp cho điều kiện phát triển và cạnh tranh của ngân hàng hay chưa. Những mặt nào cần phát huy và những mặt nào cần khắc phục và hoàn thiện thêm.

Phân tích tài chính là một công cụ để kiểm soát sự chính xác của hoạt động kế toán và thống kê trong ngân hàng.

  • Nội dung phân tích tài chính

Để khái quát tình hình tài chính, người ta thường dựa vào các báo cáo kế toán, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính của ngân hàng và phân tích các chỉ số tài chính. Phân tích tài chính còn có những mục tiêu đi tới những dự đoán tài chính, dự đoán kết quả tương lai và trên cơ sở đó đưa ra những quyết định hợp lý. Phân tích tài chính không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính mà còn phải tổng hợp những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của ngân hàng, như các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế của quốc gia và quốc tế, các thông tin chung về ngành kinh tế, pháp lý đối với ngân hàng.

  • Phân tích nguồn vốn huy động

Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế, điều này cũng cho thấy sự khác nhau giữa ngành kinh doanh tiền tệ với các doanh nghiệp khác. Vì vậy, việc nghiên cứu nguồn vốn huy động của ngân hàng là việc làm quan trọng mà các nhà phân tích cần phải làm.

Cơ cấu vốn huy động sẽ ảnh hưởng đến chi phí trả lãi tiền gửi và cơ cấu cho vay của ngân hàng, nó quyết định quy mô hoạt động và tính tự chủ trong việc sử dụng vốn của ngân hàng, do đó cần nắm rõ sự biến động trong vốn huy động của ngân hàng sẽ giúp hạn chế rủi ro gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào cho ngân hàng.

  • Phân tích vốn vay

Bên cạnh việc huy động vốn dưới dạng tiền gửi, các ngân hàng còn có thể thu hút vốn dưới dạng đi vay. Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn. Khi thiếu vốn kinh doanh ngân hàng có thể vay ngân hàng nhà nước, vay các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài.

Ngân hàng có thể vay vốn các tổ chức tín dụng khác ở thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Về mặt nguyên lý thì chí phải trả vốn vay ở thị trường liên ngân hàng trong nước lớn hơn chi phí phải trả cho vốn huy động từ nền kinh tế dưới dạng tiền gửi tiết kiệm hoặc tiền gửi của tổ chức kinh tế. Khi ngân hàng phải đối phó với những rủi ro về thanh khoản, là những rủi ro phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức, hoặc trong tình hình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước thì ngân hàng mới có nhu cầu vay các tổ chức tín dụng.

Các ngân hàng còn có thể vay vốn ở ngân hàng Nhà nước. Hiện nay theo quy định của ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố chỉ được xét cho vay thanh toán bù trừ, còn vay khác phải do ngân hàng Nhà nước Trung ương quyết định, mục đích là để kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên thời gian và chi phí cho việc vay vốn này thường là phức tạp. Vì vậy số lượng ngân hàng thương mại vay vốn ngân hàng Nhà nước trong những năm qua không nhiều.

Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể vay các tổ chức tín dụng nước ngoài. Vốn vay trong trường hợp này là ngoại tệ mạnh. Để vay được vốn của tổ chức tín dụng nước ngoài ngân hàng phải là một doanh nghiệp có uy tín, quan hệ quốc tế rộng rãi, công nghệ ngân hàng tiên tiến … mới được sự đồng ý của ngân hàng Nhà nước. Mặc dù điều kiện cấp tín dụng của ngân hàng nước ngoài rất khó khăn nhưng nếu được cấp ngân hàng sẽ được một số vốn lớn với lãi suất thấp, chi phí giao dịch nhỏ.

  • Phân tích tài chính thông qua bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán của ngân hàng là một báo cáo tài chính tổng hợp, được trình bày dưới dạng cân đối, phản ánh toàn bộ tài sản hiện có và nguồn vốn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định. Hay nói cách khác, bảng cân đối tài sản là một báo cáo tài chính phản ánh điều kiện tài chính của ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Các số liệu trên bảng cân đối tài sản phản ánh số dư, nên chúng thay đổi từ thời điểm này qua thời điểm khác. Vì bảng cân đối kế toán là bảng chụp như bức tranh về tình hình tài chính tại thời điểm cuối năm, trên cơ sở đó ta tính được các chỉ tiêu tài chính, do đó nó trở thành công cụ tốt để so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các thời kỳ khác nhau, đồng thời tạo ra cái nhìn tổng quát về cơ cấu và sự biến đổi trong bảng cân đối.

Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo tài chính quan trọng nhất. Nó phản ánh một cách tóm tắt về tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản. Trong đó, tài sản là phần sử dụng vốn của ngân hàng chủ yếu là những khoản tín dụng đầu và đầu tư, phần nguồn vốn là những khoản mà ngân hàng phải thanh toán, mà chủ yếu là tiền gửi của khách hàng và các khoản cho vay từ các hình thức khác. Qua đó nhà quản trị có thể biết được tài sản hiện có, hình thái vật chất, cơ cấu tài sản, tình hình hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính của ngân hàng. Thông qua bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có thể nghiên cứu, đánh giá trình độ quản lý, chất lượng kinh doanh cũng như dự đoán triển vọng của ngân hàng trong tương lai.

  • Phân tích tài chính thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính của ngân hàng cho biết tình hình thu, chi, và lãi lỗ trong kinh doanh. Thông qua các chỉ tiêu trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, chi phí, thu nhập và kết quả kinh doanh sau một kỳ kế hoạch. Đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của ngân hàng đối với Nhà nước. Bảng kết quả hoạt động kinh doanh có 3 khoản mục lớn: thu nhập, chi phí, lợi nhuận.

  • Phân tích thu nhập của ngân hàng

Chỉ số này giúp nhà phân tích xác định cơ cấu của ngân hàng để từ đó có những biện pháp phù hợp để tăng lợi nhuận, đồng thời có thể kiểm soát rủi ro trong kinh doanh.

  • Phân tích chi phí của ngân hàng

Chỉ số này giúp nhà phân tích có thể biết được kết cấu các khỏan chi để có thể hạn chế các khoản chi bất hợp lý, tăng cường các khỏan chi có lợi cho hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện tốt chiến lược đã đề ra.

  • Phân tích lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Lợi nhuận có thể hữu hình như tiền, tài sản,… hoặc vô hình như uy tín, thị phần, thương hiệu. Thông qua phân tích lợi nhuận, các nhà phân tích có thể theo dõi, kiểm soát, đánh giá lại các chính sách về tiền gửi và cho vay của ngân hàng để thực hiện được mục tiêu đạt được lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất. Đồng thời, qua phân tích lợi nhuận, có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá đúng hơn về kết quả đạt được, xu hướng tăng trưởng và các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng.

  • Phân tích tài chính thông qua các tỷ số tài chính

Phân tích các tỷ số tài chính là bước đầu tiên trong phân tích tài chính. Các tỷ số được xây dựng qua mối quan hệ giữa các khoản mục trong báo cáo tài chính. Các tỷ số tài chính vừa thể hiện mối quan hệ giữa các khoản mục khác nhau trong báo cáo tài chính, vừa dùng để so sánh các khoản mục ngân hàng qua nhiều giai đoạn.

  • Các tỷ số khả năng sinh lời:

Hệ số sinh lời vốn khả dụng

=      Thu nhập lãi
Doanh số cho vay
  • Hệ số sinh lời vốn khả dụng:

Hệ số này càng cao thì thu nhập từ hoạt động tín dụng của ngân hàng càng cao

  • Hệ số doanh lợi (ROS): phản ánh khả năng sinh lời trên cơ sở thu nhập được tạo ra trong kỳ, cho biết một đồng thu nhập tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Hệ số này càng cao thì thu nhập từ hoạt động tín dụng của ngân hàng càng cao.

Hệ số doanh lợi

=         Lợi nhuận ròng
Thu nhập
  • Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA):

Tỷ số này đo lường khả năng sinh lời của tài sản, cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhận ròng.

  • Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE):

Tỷ số này đo lường mức độ sinh lời của vốn chủ sở hữu và gắn liền với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

  • Tỷ suất thu nhập lãi:

               

Chỉ số này cho biết một đồng tài sản sinh lời đem lại cho ngân hàng bao nhiêu đồng thu nhập lãi ròng. Tỷ số này càng cao càng tốt.

  • Các tỷ số hoạt động kinh doanh:
  • Vòng quay vốn tín dụng (vòng):
Vòng quay vốn tín dụng  =Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân

Trong đó:

Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ vay nhanh hay chậm, chỉ số này càng lớn càng tốt.

  • Tổng chi phí trên tổng thu nhập: Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng thu nhập, chỉ số này thấp chứng tỏ ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
  • Các tỷ số quản trị nợ
  • Hệ số thu nợ:

Hệ số này thể hiện sự so sánh giữa số tiền ngân hàng thu nợ với số tiền cho vay trong một thời kỳ kinh doanh nhất định.

  • Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu đo lường mối tương quan giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này được tính bằng công thức sau:

  • Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay

Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay đo lường khả năng trả lãi bằng lợi nhuận trước thuế. Như vậy khả năng thanh toán lãi vay phụ thuộc và hiệu quả sản xuất kinh doanh và mức độ sử dụng nợ. Khả năng thanh toán lãi vay được xác định bằng công thức:

  • Các tỷ số về hiệu quả sử dụng tài sản:

– Tổng thu nhập trên tổng tài sản: Chỉ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng, chỉ số này cao chứng tỏ ngân hàng đã phân bổ tài sản đầu tư một cách hợp lý và hiệu quả tạo nền tảng cho việc tăng lợi nhuận của ngân hàng.

– Tổng chi phí trên tổng tài sản: đây là chỉ số xác định chi phí phải bỏ ra chi việc sử dụng tài sản để đầu tư. Chỉ số này cao cho nhà phân tích thấy được ngân hàng đang yếu kém trong khâu quản lý chi phí của mình và từ đó nên có những thay đổi thích hợp để có thể nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng trong tương lai.

Tải luận văn miễn phí!

Video Hướng dẫn download luận văn

Công ty TNHH Thế giới in ấn và photocopy
Địa chỉ: 87 Trần Đại Nghĩa – phường Bách Khoa – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội
Hotline: 0938 152 888 – 0466 635 333
Email: insinhvienbk@gmail.com
Phân tích tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội
5 (100%) 3 votes

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *